Thoạt nhìn chị không có gì nổi bật khi đứng cạnh những cô gái châu Á. Chị càng trở lên lọt thỏm giữa những phụ nữ châu Âu. Vậy mà người ta thích nhìn chị, đặc biệt là thích nhìn trộm mỗi khi chị nói, hay mỗi lúc chị cười. Khuôn mặt đậm chất Á đông, đôi mắt đen tròn biết nói, khóe miệng lúc nào cũng tươi. Mái tóc dài, đen mượt, giọng nói chong, ngữ âm chuẩn và uyển chuyển cả khi chị nói tiếng Đức và tiếng Việt. Người bản xứ thường nói rằng họ biết đến Việt Nam qua chị. Xa quê đã gần ba mươi năm, đó là quãng thời gian đủ để chị lập nghiệp, đủ để chị có vị thế ngang bằng với những người bản xứ thành đạt. Và cũng đủ để chị (Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Việt Nam tại Austria, Ủy viên Ban chấp hành Liên hiệp Hội Doanh nghiệp Việt Nam tại châu Âu) thấy cồn cào nỗi nhớ quê mỗi khi ăn món canh chua, chả giò, phở bắc…
Ai về Hà Nội cho tôi theo cùng…
Lần đầu tiên tôi gặp chị giữa cái lạnh âm hai mươi độ nơi đất khách. Chúng tôi trò chuyện với nhau bên tách trà mạn nghi nghút khói cho đến khuya. Tôi nhận ra đằng sau vẻ lịch lãm, giòn thắm của người đàn bà ấy ẩn hiện nỗi nhung nhớ khổ sở tột cùng. Linh cảm mách bảo tôi nhưng thời gian không cho phép tôi dừng lại lâu bên chị.
Thời gian sau tôi có dịp trở lại Vienna, để xác tín điều mình đã nghĩ, tôi tìm gặp lại người đàn bà có đôi mắt biết nói ấy. Đôi mắt đã từng ngơ ngác lắm, khi mới là đứa trẻ hơn mười tuổi đã phải sống trong trại tị nạn, trong sự yếm thế và khốn cùng. Đứa trẻ chỉ biết ngước nhìn lên trời mỗi khi có chiếc máy bay ngang qua và thầm ao ước được bay về với chúng bạn. Mỗi lần nhận được thư bạn bè trách móc: “Mày luôn là niềm tự hào của cả trường, sao mày lại bỏ đi ?” cô bé lại dấm dứt khóc cả đêm. Dung không bỏ quê ra đi để … đến trại tập trung này. Cô bé chỉ muốn đến một chân trời mới với khát khao trở thành nhà khoa học. Nước mắt đã không làm Dung lớn lên, nước mắt cũng không cứu thoát Dung ra khỏi trại tị nạn. Mà chính đôi mắt biết nói, chính tinh thần ham học hỏi đã đưa cô ra khỏi trại tị nạn trong một dịp cứu rỗi của những người theo đạo Thiên Chúa.
Hình ảnh những chiếc máy bay đã ám ảnh cô bé và duyên số đưa cô đến làm công nhân quyét dọn ở Sân bay Vienna. Đi làm để lấy tiền mua sách, đóng học và mua quần áo mới, đó là những thứ tính toán chưa bao giờ xuất hiện trong đầu cô tiểu thư, hồi còn ở trong nước. Điều lớn hơn khiến cô bé đến làm việc ở sân bay này là bởi vì nỗi nhớ người da vàng mũi tẹt như mình. Cô bé tưởng gặp họ rồi cô sẽ bớt nhớ quê nhưng ngược lại, nỗi nhớ càng tăng lên, tăng lên đến mức cô muốn nhào lên những chiếc máy bay ấy mà đi ngay, mà về ngay với chúng bạn.
Trong bài viết Gặp gỡ ở Vienna, nhà văn Nguyễn Trí Huân cũng đã khắc họa nỗi nhớ day dứt của những người con xa xứ như Dung. Tôi còn nhớ mùa Đông năm trước, chị đã níu tay chúng tôi, nấu phở, nấu chè, làm nem thết đãi chúng tôi. Tôi còn nhớ rất rõ, ánh mắt khẩn khoản của chị: “Em ở lại với chị thêm một ngày nữa đi !”, tôi ngạc nhiên khi lần đầu tiên mình lại muốn bật khóc bởi nỗi nhớ sâu thẳm không phải là của mình. Tôi còn nhớ cả câu nói nửa đùa, nửa thật của chị: “Chú và Yến về Hà Nội cho cháu theo về với nhé…”. Tôi biết đó chỉ là câu nói chợt thức của một đứa trẻ trong trại tị nạn ngày xa xưa. Giờ đây trên cương vị giám đốc công ty Handelsagentur Kim Trading, chuyên kinh doanh ngành giấy và thời trang, chị đã mang rất nhiều dự án về Hà Nội. Sau một thời gian làm việc với các nhà máy sản xuất giấy của Austria, chị đã có được những kinh nghiệm trong việc sản xuất giấy chất lượng cao. Vào thời điểm đó, chất lượng giấy in ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, chị hợp tác với công ty Giấy Tân Mai Hà Nội, Bãi Bằng, Việt Trì và Bắc Ninh… để sản xuất những lô giấy đạt chất lượng xuất khẩu vào thị trường châu Âu và châu Á. Năm 2007, chị đã tổ chức một cuộc Hội thảo qui mô quốc tế cho ngành giấy tại Hà Nội. Từ cuộc Hội thảo đó các doanh nghiệp đã chia sẻ kinh nghiệm và cơ hội hợp tác Á- Âu. Trong lĩnh vực thời trang chị cũng đã mang về Hà Nội nhiều dự án may đồng phục cho đội cổ động viên đua xe của Austria. Những hợp đồng thiết kế, vẽ đồ trang sức chị cũng mang về cho những người thợ thủ công đất Kinh kì. Nhiều công ty ở Hà nội đã tạo được công ăn việc làm cho công nhân cũng từ những hợp đồng của chị. Chị đã giúp các công ty Việt Nam có kinh nghiệm làm việc với ngân hàng, làm việc với các công ty quốc tế nên họ thường đặt niềm tin nơi chị. Tốt nghiệp Master kinh tế và Marketing trường Đại học Johannes Kepler University Linz , HEC University in Canada và WU University Wien, cộng thêm kinh nghiệm nhiều năm giữ vị trí Manager trong Tập đoàn IBM và VA-TECH thuộc Tập đoàn Siemens, đã giúp chị luôn tự tin vào bản thân, nhưng cũng có những lần chị bị “rớt đài”: vì thói quen làm việc “ề à” của người Việt; vì thời điểm khủng hoảng kinh tế nhiều ngân hàng không cho các công ty giấy vay vốn, dẫn đến sản xuất bị đình trệ, hợp đồng bị phá vỡ, thất tín với đối tác châu Âu… “Thất bại trong thương trường là do các nguyên nhân khách quan nhưng đôi khi nó cũng thể hiện sự non kém, thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu óc phán đoán, thiếu phương án dự trù, thiếu cả tính đoàn kết”- chị biết thế nhưng cũng không vì thế mà bỏ cuộc.
Không sinh ra ở Hà Nội nhưng đó là thành phố mà chị đã và đang đóng góp công sức, của cải và trí tuệ của mình. Tại những dịp đặc biệt như: Cuộc “Gặp gỡ kiều bào”, Hà Nội năm 2007; Small TalK doanh nhân tiêu biểu trên VTV1, VTV4; Hội nghị lần thứ nhất dành cho Kiều bào hướng về quê hương năm 2009… Giới truyền thông đã giành nhiều tình cảm cho nữ doanh nhân này cũng vì những đóng góp của chị cho mảnh đất Hà Thành.
Vienna đã tiếp sức cho tôi
Nhiều người Việt trên đất khách vẫn thường ám ảnh sự tự ti da vàng, mũi tẹt, tị nạn, đậu nhờ… chị lại biến những điều đó thành điểm mạnh của mình. Sang Austria từ khi mười năm tuổi, trải qua nhiều công việc để kiếm sống, nhưng người con gái ấy vẫn giữ được mái tóc đen truyền thống, khuôn mặt thuần hậu, nụ cười rạng rỡ, khiến cho người đối diện luôn bị thu hút. Trong nhiều cuộc thương thảo với các công ty của Nga, chị đã mang về những hợp đồng lớn. Thành công đó là nhờ vào “khuôn mặt rất Việt Nam” của chị. Ban lãnh đạo các công ty Nga yêu mến Việt Nam, đặc biệt họ dành những từ ngữ thiêng liêng khi nhắc đến những người mẹ Việt Nam, có lẽ vì thế mà họ thân ái đối với chị. Chỉ sau một thời gian ngắn chị đã trở thành Sale manager của Tập đoàn IBM rồi Siemens. Dù xã hội châu Âu có cởi mở đến mấy thì việc một phụ nữ Việt trở thành lãnh đạo đứng cao hơn nhiều người đàn ông bản xứ, đó là vấn đề không dễ chấp nhận. Trong vòng 20 năm chị luôn làm việc với cường độ cao, sáu mươi giờ trong một tuần, bằng toàn bộ nhiệt huyết để mang lại lợi nhuận tối đa cho công ty. Đó cũng là vốn kinh nghiệm mà chị tích lũy được rồi thành lập công ty cho riêng mình. Nếu trong giới kinh doanh người ta ngưỡng mộ G.S Joseph Nye- cha đẻ của thuyết “Sức mạnh mềm” thì chị lại ngưỡng mộ chính cách dạy con của mẹ mình.
“Tôi cũng không dễ gì thành công nếu thiếu sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp Austria. Họ đã dạy cho tôi biết cách mà một người muốn thành công ở châu Âu phải có: Khả năng thực tế; Tích lũy kinh nghiệm; Bằng cấp và khả năng chinh phục. Mỗi lần đi công tác nước ngoài, lúc quay trở lại Vienna, gặp người Vienna tôi thấy mình không thể hạnh phúc hơn được nữa”. “Đúng là tôi đã không thể thành công nếu xã hội nơi đây không yên bình”. Những lúc nhớ quê, người đàn bà tóc đen lái xe đến ven hồ, soi bóng dáng mình mà ngẫm về bờ ao xưa. Những lúc nhớ quê người đàn bà tóc đen lang thang về làng, ngắm nhìn đồng lúa mì, bạt ngàn rạng nho xanh tĩnh lặng, chỉ có các loài hoa là thi nhau lở trên các ô cửa sổ những căn nhà gỗ. Có những lúc nỗi nhớ quê khiến người đàn bà tóc đen phát ngờ nghệch, lắng nghe tiếng vó ngựa lóc cóc trước tòa thư viện Nationalbuecherei lại ngỡ tiếng chân trâu làng... “Thời sinh viên tôi từng nhiều lần để quên xe đạp ở góc phố, một tuần sau tôi quay lại vẫn thấy chiếc xe đạp dựng ở đó”- chị nói, tôi thêm vào: “Tối nào em cũng nhìn thấy rất nhiều ô tô đắt tiền và cả những chiếc xe máy Vespa, LX (loại xe sang) để đầy ở gốc cây, mà chẳng thấy bị làm sao cả…”.
Cái xã hội nhân ái và yên bình mà chị đang nhắc đến ở đây, khiến cho tôi – kẻ đang tham gia viết bài này cũng muốn bày tỏ đôi điều mà mình “mục sở thị” : “Nếu bị lạc trên đường phố Vienna thì ngay lập tức sẽ có nhiều người xung phong chỉ dẫn bạn. Nếu bạn về làng quê sẽ bắt gặp từ trẻ nhỏ đến người già, ai ai cũng mỉm cười với bạn. Dù bạn chỉ gặp một người công nhân, anh ta cũng có khả năng nói chuyện hàng giờ với bạn về hội họa, âm nhạc và cảnh đẹp của đất nước mình…”. Tất cả những người bản xứ tôi gặp, từ người nông dân, công nhân, công chức, nhà báo, nhà văn, nhà lãnh đạo, cán bộ văn phòng Thủ tướng… tôi đều thấy họ yêu thành phố của họ tha thiết. Họ làm cho những kẻ lạc xứ như chị, như tôi phải ngưỡng mộ và yêu và gìn giữ thành phố của họ.
Nhưng nhiều khi để hiểu đúng về nhau chúng ta cần phải có thời gian là phép thử. Có một lần tôi phải làm giấy tờ với cơ quan công quyền của Austria, tôi đến gặp một phụ nữ trung tuổi, cô ấy tỏ ra rất khó chịu. Tôi không hiểu cô ấy kì thị người nước ngoài hay cô ấy kì thị kẻ tập tễnh chống gậy như tôi. Tôi đã phải quay trở lại vào tuần sau nhưng vẫn hỏng việc. Và chị xuất hiện, tôi không biết chị đã nói những gì với người phụ nữ ấy (vì tôi chỉ biết tiếng Anh, còn chị thì nói tiếng Đức) mà sau đó cô ta cười rất tươi và còn hứa sẽ đến thăm Việt Nam. “Nhiều người Austria nhân ái lắm em ạ” tôi cứ ngỡ chị sống ở đây thì phải bênh vực người ở đây nhưng sau này tôi mới biết chị nói thế là hoàn toàn có cơ sở. Lần khác tôi cũng phải làm việc với cơ quan công quyền, tiếp đón tôi cũng là một phụ nữ. Trong quá trình hướng dẫn thủ tục cho tôi, cô ta luôn mỉm cười, hỏi han tôi về chuyến công tác cũng như cái chân đau của tôi rồi cô ấy hỏi nhiều về Việt Nam. Những lần làm giấy tờ thủ tục của tôi còn kéo dài, tôi nhận ra những gì chị nói đều có lý. Bấy nhiêu điều khiến tôi- kẻ cầm bút phải chiêm ngẫm “liệu có nơi nào nhân ái và bình yên hơn Austria ?”.
Có nhiều cách để yêu nước, riêng chị chọn nấu ăn…
“ Ta đi ta nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muốn nhớ cà rầm tương”
Nghe tôi đọc câu ca dao đó, chị ngưng lặng vài giây như để nhẩm lại từng từ và để biết là mình đã quên nó. Nhưng bản năng “tề gia nội chợ” của người phụ nữ Việt chưa bao giờ mất đi trong chị. Người ta có nhiều cách để bày tỏ tấm lòng yêu nước, với một phụ nữ bé nhỏ như chị, sau tất cả những thành đạt chị lại có sở nguyện truyền bá văn hóa Việt qua những món ăn cua đồng rau rút, tôm quấn gỏi, phở bắc… khiến cho nhà báo Florian Holzer – nhà phê bình ẩm thực nổi tiếng nhất Austria đã phải thốt ngạc: “Ẩm thực Việt Nam là một trong những thứ mà người Austria yêu thích. Người ta không thể quên được vị thanh nhã, ngọt tươi và càng không thể dứt ra được bởi sự sống động, hấp dẫn của những món ăn. Tôi ấn tượng về canh chua, nem, gỏi cuốn của quán này. Hương vị của chúng khiến tôi cảm thấy như đã chạm được đến từng vùng quê Việt Nam. Tôi muốn nói tôi yêu phở Việt Nam và mãi mãi muốn tìm hiểu về nó... ».
Austria nằm ở vị trí trung Âu nên có nhiều du khách qua lại, họ đến quán chị ăn, rồi nhớ lần sau quay trở lại thì mang theo bạn bè. Austria không có biển nên người dân không quen ăn đồ biển, từ khi chị mở nhà hàng, giới thiệu nhiều món từ vùng biển Phú Yên, Đà Nẵng, Nha Trang… thì nhiều người dân bản xứ đã “nghiền”đồ hải sản. Nhiều chuyên gia trong “Hội Hữu nghị Áo- Việt” đã “mòn dép” ở Việt Nam, nay chiều chiều thanh thản đến quán chị để thấy như là họ đang được trở về Việt Nam. Cô Ingrid Rauch và đồng nghiệp Horst, sau khi thưởng thức món Nem làm theo công thức của chị, họ chỉ còn biết tấm tắc : « Tôi tưởng tôi đang ở Hà Nội ». Mỗi lần tôi và các bạn Austria đến quán đều thấy chị say xưa “thuyết giảng” cho khách về sự phong phú của ẩm thực Việt như; món canh chua này ở Nam Bộ; món bún riêu thì dân Bắc hay ăn sau những buổi làm đồng; món chè Huế, nếu về Việt Nam thì đừng quên ăn thử nhé…
Không chỉ người dân bản xứ đã dành nhiều ưu ái cho quán chị mà ngay cả những người Việt cũng không quên đến quán chị mỗi khi họ có dịp ghé qua Âu châu. Nhiều doanh nghiệp Hà Nội, nhiều Đoàn khách trong nước hoặc những Đoàn Việt Nam ở các nước châu Âu sang Austria công tác, họ đến với chị vừa là để tri ân vừa là để thưởng thức hương vị Việt. Năm 2010, phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng và Đoàn công tác cũng đã đến quán chị, như để « kiểm tra chất lượng ẩm thực Việt» : "… Nhà hàng có vị trí đẹp, khung cảnh tuyệt vời, gần Trung tâm Hội nghị quốc tế, Khu giải trí tổng hợp tại trung tâm Thủ đô, rất thuận lợi, hiện đại trong dáng dấp kiến trúc châu Âu cổ kính. Các món ăn trong Nhà hàng phù hợp thị hiếu khách hàng, tôn vinh cho ẩm thực Việt Nam...”- đó là cảm nhận của Phó Thủ tướng, ông ấy không nhìn vào qui mô doanh nghiệp, hay của cải tiền bạc mà một Việt Kiều có thể đóng góp cho quê hương, ông ấy nhìn vào lòng tự tôn dân tộc- cách mà một phụ nữ bé nhỏ đang làm trên đất Austria hôm nay.
Việc “tề gia nội trợ, công dung ngôn hạnh” là việc đầu tiên mà các bà mẹ Việt Nam thường hay dạy con gái. Thời trẻ có khi các cô còn bĩu môi, coi đó là chuyện cổ hủ, nhưng bây giờ chị mới biết đó chính là di sản giúp chị thành công khi phải một mình “hành trình ra thế giới”. Nắng đã tắt dần trên đường phố Vienna, chúng tôi chào chị để nhường chỗ cho những thực khách “chung thân”. Người bạn của tôi đưa tay ngắt một bông tầm xuân- thứ hoa mà ở Việt Nam lũ học trò vẫn thường coi là hoa dại, nó đang khoe sắc rực rỡ ngoài khu vườn đẹp như nhất Vienna.
Vienna, 7/ 2010
(Tác phẩm đoạt Giải Nhì (và Giải Nhân vật văn học) Cuoc thi But ki phong su Bao Nguoi Ha Noi, 2010, nhân dịp 1000 năm Thăng Long- Ha Nội)
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=326344
Bản in



